Chào mừng năm học mới 2018-2019!

Video Clip

  • Những người ở lại trong lòng đất

    Trương Nhất Nguyên - Á khoa khối B toàn quốc

    Địa đạo Vịnh Mốc - Huyền thoại trong lòng đất...

    Tin về thành tích IOE năm học 2014-2015 trên...

    Phóng sự về trường trên sóng QTV

  • Thư viện hình ảnh

    Lịch thi & phòng thi

    Lịch thi & phòng thi

    Liên kết

    Trang nhất » Thơ văn nhà trường

    Dạy học, kiến thức hay kỹ năng
    Ngày tạo: 03/12/2013   Lượt xem: 2361

    BBT xin đăng bài viết của thầy giáo Nguyễn Trí Nguyên (tổ Hóa học) về đề tài phát triển tư duy trong dạy và học.

    1. Sự cần thiết của dạy học theo hướng phát triển toàn diện về mặt tư duy

    Đổi mới giáo dục có lẽ không còn là một thuật ngữ mới mẽ trong khoảng hơn 10 năm qua. Chúng ta đã trải qua rất nhiều đợt thí điểm chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông, bên cạnh việc bổ sung các kiến thức cần thiết nhằm hiện đại hóa chương trình dạy học. Tuy nhiên, kết quả đạt được trong thời gian qua về đổi mới giáo dục chưa được như kỳ vọng. Học sinh chúng ta vẫn phải học chương trình tương đối nặng, kiến thức được trang bị vẫn chưa có tính hệ thống trong việc phát triển các kĩ năng mới như tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, tìm kiếm và xử lý thông tin…kể cả những kĩ năng truyền thống như tự học chẳng hạn vẫn chưa được chú trọng mà có phần giảm sút so với trước đây. Thực tế cho thấy nhiều học sinh giỏi vẫn đi học thêm. Nhiều giáo viên bây giờ vẫn phàn nàn rằng kĩ năng trình bày của học sinh là quá yếu, kể cả những học sinh lớp 10, trong khi những năm học ở cấp THCS chủ yếu làm bài kiểm tra theo trắc nghiệm tự luận, chưa làm quá nhiều bài tập trắc nghiệm khách quan. Kết quả kiểm tra các kĩ năng trình bày cơ bản cho thấy vẫn có nhiều em học sinh không chỉ yếu về diễn đạt mà yếu về cách trình bày, lập luận logic một vấn đề, chưa nói đến kĩ năng trình bày trước đám đông. 
    Về cơ bản, dạy học là một quá trình mà người giáo viên tổ chức các hoạt động trong mối liên hệ với học sinh theo định hướng của chương trình giáo dục nhằm hình thành cho học sinh những phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng đồng và cao hơn là đáp ứng yêu cầu sự phát triển của đất nước. Chính xã hội sẽ kiểm tra, đánh giá “sự hữu ích” của những phẩm chất và năng lực và học sinh đã hình thành được trong quá trình học tập và rèn luyện ở nhà trường. Với học sinh phổ thông, xã hội chúng ta hiện nay đang thiên về đánh giá bằng kết quả đạt được trong các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Học sinh nào vượt qua được “cửa này” được đánh giá “giỏi”, là “xuất sắc”, vì vậy, học sinh, phụ huynh và kể cả nhà trường chủ yếu tập trung luyện thi, tập trung là những môn thi đại học để các em đỗ đạt cao. Các em thi đỗ, hoàn thành 4 hay 5 năm chương trình đại học và ra trường trong sự thiếu thốn rất nhiều kỹ năng, rồi thất nghiệp. Đây là một thực tế được dư luận phản ánh trong thời gian qua. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thiếu các kĩ năng cần thiết, trong đó có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu. Điều này nói lên rằng đổi mới thi cửlà việc đầu tiên cần phải làm, để từ đó học sinh mới đổi mới cách học.
    Trong bối cảnh chúng ta vẫn quá xem trọng “tấm bằng đại học” và xem nhẹ vấn đề đào tạo nghề sau tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông, việc thực hiện đổi mới mang tính cách mạng cho một kỳ thi có uy tín cao như kỳ thi đại học không phải là điều dễ dàng. Nếu chúng ta lại tiếp tục chờ đợi, nhiều học sinh lại tiếp tục học theo xu thế chung, sau đó ra trường trong tình trạng không có khả năng tự tìm kiếm việc làm. Đó là môt tình trạng hết sức đáng lo ngại vì nó làm hao tổn một nguồn kinh phí rất lớn từ nhà nước và nhân dân.
    Chừng mực nào đó, chương trình dạy học của chúng ta hiện nay vẫn đòi hỏi cao về mặt tái hiện kiến thức. Điều này gây cản trở cho nhiều học sinh có những năng khiếu đặc biệt nhưng không giỏi về khả năng ghi nhớ. Một học sinh có khả năng tham khảo tốt các tài liệu để tìm ra những ý tưởng sáng tạo mới thì không được tạo điều kiện những học sinh nhớ được nhiều kiến thức và giải được những bài tập đòi hỏi những kỹ năng tính toán phức tạp. Chỉ có một số ít học sinh đáp ứng được những yêu cầu cao về mặt ghi nhớ các kiến thức của rất nhiều môn học cũng như giải quyết nhanh gọn các bài tập mang tính toán học cao. Phần còn lại phải bằng cách này hay cách khác để cải thiện thành tích học tập ở trường của mình.
    Sự hội nhập quốc tế làm cho nền kinh tế xã hội Việt Nam chúng ta ngày càng năng động, và con người sống trong đó phải có đủ kỹ năng sống để thích ứng với sự thay đổi nhanh đó. Vì vậy, việc dạy học theo định hướng phát triển, hoàn thiện các kỹ năng tư duy cũng như các kỹ năng sống khác có lẽ là điều chúng tôi rất muốn nghĩ đến. 

    2. Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng tư duy

     

    Chúng ta hay nói về dạy học để phát triển tư duy cho học sinh. Nhưng thật sự, chắc không có nhiều thầy cô có đủ thời gian để nghiên cứu về tư duy và phát triển tư duy cho học sinh một cách có hệ thống.
    Ở các nước phát triển người ta đã có nhiều nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển các kỹ năng tư duy cho học sinh, sinh viên. Nổi tiếng nhất trong số đó có lẽ là “Phân loại mục tiêu giáo dục” (Taxonomy of educational objectives: the classification of educational goals). Cách phân loại của Bloom được coi là nền tảng cho chương trình giáo dục nước Mĩ sau này. Cuộc điều tra của H.G Shane năm 1981 đã ghi nhận vai trò của ông và các cộng sự trong công trình “Những bài viết ảnh hưởng lên chương trình giáo dục: 1906-1981(Significant writings that have influenced the curriculum: 1906-1981).
               
       Hình 1: Benjamin Bloom
    Thang phân loại kỹ năng tư duy trong dạy học được Bloom và các thành viên trong hội đồng giáo dục do ông làm chủ tịch được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
    Hình 2: Thang phân loại kỹ năng tư duy của Bloom[1]
    Qua nghiên cứu tài liệu và những thử nghiệm trong quá trình dạy học, chúng tôi đề xuất định hướng phát triển tư duy cho học sinh theo các bước như sau: 

     Bước 1. Chọn một thang phân loại kỹ năng tư duy phù hợp 

     Bước 2. Đặt ra một hệ thống câu hỏi cho bài giảng theo hướng phát triển tối đa các kỹ năng trong quá trình phát triển tư duy theo thang phân loại đã lựa chọn. 

     Bước 3. Tổ chức dạy học theo hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị trên cơ sở thang tư duy lựa chọn. 

     Bước 4. Luyện tập với hệ thống câu hỏi tương ứng với thang phân loại kỹ năng tư duy lựa chọn. 

     Bước 5. Ra đề kiểm tra với đủ thể loại tư duy theo thang phân loại kỹ năng tư duy lựa chọn theo định hướng chung của sách giáo khoa.

     

    Nếu phát triển tư duy cho học sinh theo các bước như trên, thì việc tự học của giáo viên cũng sẽ phải trải qua một số giai đoạn tương ứng. 

     Bước 1. Nghiên cứu về các thang phân loại kỹ năng tư duy. 

     Bước 2. Nghiên cứu cách đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng nhất. 

     Bước 3. Nghiên cứu phương pháp tổ chức dạy học sử dụng các câu hỏi một cách có hiệu quả và tiết kiệm thời gian nhất. 

     Bước 4. Chọn lựa các câu hỏi có tính chất phát triển các ky năng tư duy một cách phù hợp. 

     Bước 5. Nghiên cứu ra đề kiểm tra đánh giá vừa đảm bảo nội dung chương trình dạy học theo quy định, vừa đảm bảo phát triển các kỹ năng tư duy.

     

    Chi tiết hơn, có nhiều thang phân loại tư duy như: thang phân loại kỹ năng tư duy Bloom, thang phân loại kỹ năng tư duy Marzano và việc lựa chọn là tùy nhu cầu cũng như phương pháp tổ chức dạy học của mỗi giáo viên.
    Việc dạy học một bài cụ thể nào đó, đòi hỏi người giáo viên bên cạnh sử dụng kiến thức sách giáo khoa, phải tự tìm tòi nghiên cứu thêm để đưa học sinh đến các nấc thang cao hơn trong sơ đồ trên. Có như vậy, chẳng hạn khi một học sinh thiên về văn chương vẫn có thể tìm thấy được những điều đáng học và cần thiết trong môn hóa học. 

    3. Thực tiễn về quá trình dạy học dưới góc độ hoàn thiện các kỹ năng tư duy

     

    Chương trình dạy học của chúng ta còn xem nhẹ các phần thực hành nên nhu cầu về nâng cao kỹ năng ứng dụng và thực hành cho cả học sinh và giáo viên đang còn bỏ ngõ. Chúng tôi không đi sâu vào vấn đề này. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng trong các môn học về khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên, có rất nhiều bài học, nhiều kiến thức, tình huống gắn liền với thực tiễn. Vấn đề của người thầy là làm sao có sự liên hệ, có sự gợi mở và kích thích học sinh tìm hiểu và cao hơn là ứng dụng nó trong cuộc sống. Chẳng hạn, ở môn Giáo dục công dân, khi dạy về “Tinh thần kỷ luật” làm sao các em hiểu và vận dụng bài học này trong cuộc sống hằng ngày.
    Thêm nữa, chúng ta cũng chưa xác định rõ nghiên cứu về ứng dụng để chỉ dạy về chính bản thân ứng dụng đó, hay là dạy về phát triển tư duy cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Kết quả tìm hiểu cho thấy, các giáo viên vẫn thường loại bỏ các vấn đề giới thiệu về ứng dụng trong những câu hỏi về hóa học phổ thông vì thấy nó dài dòng, không cần thiết, và gây nhiễu làm mất thời gian đọc của học sinh. Điều này vô tình làm đánh mất chỗ đứng “nhỏ bé” của ứng dụng trong chương trình dạy học của chúng ta.
    Dễ nhận thấy rằng bên cạnh ứng dụng, thì các kỹ năng phân tích, đánh giá, sáng tạo của các môn khoa học tự nhiên đang dựa nhiều vào các bài tập mang bản chất toán học cao. Nguyên nhân là chúng ta không có nhiều các tư liệu tham khảo vừa có tính hiện đại vừa mang tính phù hợp với quá trình dạy học. Thêm nữa là tâm lí e ngại của giáo viên khi sử dụng thêm một số liệu khoa học nằm ngoài sách giáo khoa. 

    4. Đề xuất

     

    Không ai trong chúng ta là xuất sắc trên tất cả những kỹ năng tư duy cũng như là kỹ năng sống. Mỗi người chỉ được ban tặng một hay một số năng khiếu ở một số lĩnh vực nhất định. Do đó, để dạy học theo hướng phát triển kỹ năng tư duy trở thành hiện thực thì mỗi giáo viên cần có những đóng góp của mình về hệ thống câu hỏi tương ứng với các kỹ năng tư duy mà họ có ưu thế. Khi đó, học sinh đến trường sẽ có cơ hội học hỏi không chỉ một thầy cô giáo đơn lẻ trong mỗi tiết học.
    Thêm nữa, thang phân loại kỹ năng tư duy của Bloom đã được đề xuất cách đây hơn 50 năm, ít nhiều không còn đáp ứng nhu cầu của giáo dục thời hiện đại. Nhiều học giả đã có những bổ sung và đổi mới cho phù hợp với bối cảnh mới. Để áp dụng có hiệu quả, chúng ta cần phải sáng tạo khi sử dụng để đạt được hiệu quả cao nhất theo mục tiêu chung của chương trình giáo dục nước nhà.
                                                                    

    Tài liệu tham khảo:

    4.      http://oaks.nvg.org/taxonomy-bloom.html [25/10/2013]
    5.  David R. Krathwohl (2003), A Revision of Bloom's Taxonomy: An Overview, H.W. Wilson Company, p 212-218.

    Các tin khác:
    Các tin cũ hơn:

    Tìm kiếm

    Thi thử THPT QG

    TV tuyển sinh và du học

    Tư vấn tuyển sinh và du học

    Học sinh tiêu biểu

    Họ tên: Nguyễn Văn Hoàng

    Thông tin: Lớp 12 Hóa

    Thành tích: Giải Nhì HSGQG môn Hóa năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Đình Sáng

    Thông tin: Lớp 11 Hóa

    Thành tích: Giải Nhì HSGQG môn Hóa năm 2017

    Họ tên: Đặng Quỳnh Giao

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Hồ Thu Thủy

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Hữu Phong

    Thông tin: Lớp 12 Tin

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tin năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tường Lanh

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tiến Đạt

    Thông tin: Lớp 11 Toán

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Toán năm 2017

    Họ tên: Trần Lê Anh Quân

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Hữu Hiếu

    Thông tin: Lớp 11 Tin

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Tin năm 2017

    Họ tên: Trần Khánh Hà

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Phạm Lâm Phương Quỳnh

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Phan Minh Phu

    Thông tin: Lớp 12 Địa

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Địa lý năm 2017

    Họ tên: Võ Thục Khánh Huyền

    Thông tin: Lớp 10 Toán

    Thành tích: HCB Tìm kiếm Tài năng Toán học trẻ tại Singapore năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tiến Đạt

    Thông tin: Lớp 12 Toán

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Toán năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Minh Thắng

    Thông tin: Lớp 11 Lý

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Vật lý năm học 2017-2018

    Họ tên: Nguyễn Nhật Thiên

    Thông tin: Lớp 11 Hóa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Hóa học năm học 2017-2018

    Họ tên: Ngô Thị Phụng

    Thông tin: Lớp 12 Sinh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Sinh học năm học 2017-2018

    Họ tên: Đinh Nguyễn Ngọc Khánh

    Thông tin: Lớp 11 Văn

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Ngữ văn năm học 2017-2018

    Họ tên: Trần Anh Thư

    Thông tin: Lớp 11 Sử

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Lịch sử năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Thị Hoài Phượng

    Thông tin: Lớp 12 Sử-Địa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Lịch sử năm học 2017-2018

    Họ tên: Trần Thị Mỹ Huyền

    Thông tin: Lớp 11 Địa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Địa lý năm học 2017-2018

    Họ tên: Hồ Thu Thủy

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Hoàng Thị Quỳnh Giao

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Hoàng Hạnh Lan

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Nguyễn Quang Nghĩa

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Nhất Chinh phục năm 2017

    Thay lời tri ân

    Họ tên: Tập thể lớp Toán - Tin (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 5.000.000đ (thành lập trường) và 15.000.000đ (HB)

    Họ tên: Tập thể lớp Toán-Lý-Tin (92-95)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 20.000.000đ

    Họ tên: Cựu học sinh

    Thông tin: Khóa 1993-1996

    Đóng góp: 20.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Toán-Tin và Hóa-Sinh (95-98)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 16.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Lý - Hóa (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 7.500.000đ (50% ủng hộ trường, 50% HB)

    Họ tên: Đào Thiên Hương

    Thông tin: Chuyên Toán 1993-1996

    Đóng góp: 10.000.000đ (HB)

    Họ tên: Đoàn Hồ Đức Lễ

    Thông tin: Chuyên Hóa 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Trần Ngọc Lưu

    Thông tin: Chuyên Toán 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Hồ Ngọc Thăng

    Thông tin: Chuyên Hóa 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Lê Trần Bảo

    Thông tin: Chuyên Lý 1994-1997

    Đóng góp: 5.000.000đ (HB)

    Họ tên: Hồ Ngọc Tân + Nguyễn Nữ Thanh Hương

    Thông tin: Chuyên Toán 1998-2001 + Chuyên Lý 2000-2003

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Phan Thị Minh Nghĩa

    Thông tin: Chuyên Văn 1991-1993

    Đóng góp: 2.000.000đ

    Họ tên: Phan Thanh Chung

    Thông tin: Chuyên Hóa 2000-2003

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Lê Công Nam

    Thông tin: Chuyên Lý 1991-1994

    Đóng góp: 800.000đ

    Họ tên: Nguyễn Hà Lan Phương

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Nguyễn Thị Quỳnh Trang

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Trần Tiến Dũng

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Tô Thị Ngọc Thùy

    Thông tin: Chuyên Toán 1995-1998

    Đóng góp: 200.000đ

    Họ tên: Phạm Văn Thọ

    Thông tin: cựu học sinh khóa 1990-1993

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Toán - Tin (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: bổ sung 2.000.000đ (HB)

    Họ tên: Tập thể lớp Lý - Hóa (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: bổ sung 10.500.000đ (tổng: 18.000.000đ - 13.000.000 (HB) + 5.000.000đ (lễ hội))

    Họ tên: Tập thể lớp Văn - Anh (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 3.000.000đ

    Họ tên: Đoàn Tín Nghĩa

    Thông tin: Chuyên Toán 1997-2000

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Cựu học sinh

    Thông tin: Chuyên Hóa 2000-2003

    Đóng góp: 9.000.000đ (HB)

    Họ tên: Lớp Văn-Anh, Toán, Lý, Hóa, Tin

    Thông tin: cựu học sinh khóa 1999-2002

    Đóng góp: 32.100.000đ (trong đó có 25.600.000đ tiền quà tặng)

    Tiện ích

    •Thống kê truy cập

    3568246
    loading
    Mudim v0.8 Tắt VNI Telex Viqr Tổng hợp Tự động Chính tảBỏ dấu kiểu mới [ Bật/Tắt (F9) Ẩn/Hiện (F8) ]