Chào mừng năm học mới 2018-2019!

Video Clip

  • Những người ở lại trong lòng đất

    Trương Nhất Nguyên - Á khoa khối B toàn quốc

    Địa đạo Vịnh Mốc - Huyền thoại trong lòng đất...

    Tin về thành tích IOE năm học 2014-2015 trên...

    Phóng sự về trường trên sóng QTV

  • Thư viện hình ảnh

    Lịch thi & phòng thi

    Lịch thi & phòng thi

    Liên kết

    Trang nhất » Thơ văn nhà trường

    Tự học, tự nghiên cứu của GV hướng đến nâng cao năng lực và phẩm chất cần thiết cho HS
    Ngày tạo: 26/01/2014   Lượt xem: 9955

    Bài viết của thầy Nguyễn Trí Nguyên trong Hội thảo "Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho GV phổ thông" năm 2013.

    Từ sau năm 1975 đến nay, giáo dục phổ thông nước ta đã trải qua 3 lần đổi mới chương trình và sách giáo khoa (sau năm 1980, 1990 và 2000), bên cạnh việc bổ sung các kiến thức cần thiết nhằm hiện đại hóa chương trình dạy học và đặc biệt là đổi mới quan điểm, mục tiêu, cách thức tiến hành của giáo dục phổ thông để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.

    Có thể khẳng định rằng, hệ thống giáo dục phổ thông nƣớc ta hiện nay đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, mạng lưới và loại hình trường lớp, đáp ứng nhu cầu học tập của của nhân dân. Giai đoạn sau năm 2000, cùng với việc đổi mới chƣơng trình, sách giáo khoa, Ngành Giáo dục cũng đã đẩy mạnh đổi mới phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và tăng cường khai thác các thiết bị, nhất là công nghệ thông tin cho dạy và học, những giải pháp này đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

    Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, mà trong đó, xu hướng giáo dục phổ thông chạy theo thành tích, chạy theo thi cử ngày càng nặng nề: "Gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy... Trước đây, học sinh thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay bộ đề thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”, có thay đổi gì đâu, hai mươi năm trời, tốn bao công nghiên cứu, cuối cùng trở lại gần như điểm xuất phát' [GS.Hoàng Tụy]. Chính vì giáo dục nặng về ứng thí nên dẫn đến nhiều hệ lụy như: dạy thêm học thêm tràn lan, học lệch, học tủ, chỉ cốt luyện cách giải bài tập, cách làm bài để có kết quả thí tốt nhất… Những điều này đã dẫn đến một hiện tượng nguy hiểm, đó là: khả năng tự học của đa số học sinh phổ thông Việt Nam giảm sút, chủ yếu trông chờ vào luyện thi.

    Lý giải cho vấn đề vì sao ngày trước (thời chống Pháp và chống Mỹ) học sinh phổ thông Việt Nam có nhiều người học giỏi, GS.Viện sỹ Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: không phải do trình độ của thầy cao (vì đa số giáo viên không đƣợc đào tạo chuẩn); cũng không phải do cơ sở vật chất tốt (vì trường đa số là tạm bợ, thiết bị dạy học không có), mà chính là nhờ vào tự học. Chính tự học của trò và của thầy đã làm nên chất lượng giáo dục.

    Bước vào giai đoạn mới, với công cuộc "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục", với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, nhiều vấn đề mới được ngành giáo dục triển khai trong giai đoạn tới đòi hỏi người giáo viên ở các trường phổ thông phải vươn lên không chỉ về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ hiểu biết về văn hóa, khoa học kỹ thuật, các kỹ năng giảng dạy và giáo dục học sinh. Vấn đề này chắc chắc không thể trông chờ vào việc tập huấn, bồi dƣỡng của ngành giáo dục mà trước hết, phải dựa vào dựa vào nỗ lực tự học, tự nghiên cứu của mỗi một giáo viên. Vậy tự học cái gì và tự học như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất? Là một giáo viên trẻ, mới ra trường giảng dạy đối tượng học sinh giỏi một vài năm, chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cho tự học, tự nghiên cứu của giáo viên trung học như sau:

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức tự học, tự nghiên cứu của người giáo viên

    Trước hết, phải khẳng định rằng tự học, tự nghiên cứu là nhu cầu của tất cả giáo viên, dù là giáo viên trẻ mới ra trường hay giáo viên đã nhiều năm giảng dạy. Đối với các thầy cô ra trường nhiều năm, là những người có nhiều kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục học sinh. Trong quá trình giảng dạy, những thầy cô này có điều kiện để đào sâu về chuyên môn, về phương pháp giảng dạy, về nghiệp vụ của người giáo viên và khả năng ứng xử các tình huống sư phạm. Tuy nhiên, với những thầy cô này vẫn có một hạn chế điểm như khả năng sử dụng thiết bị dạy học hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, một số vấn đề mới trong giáo dục…. Những giáo viên này thường có sức ỳ lớn và ngại thay đổi, về phương pháp dạy học, họ thường thiên về truyền thụ một chiều... Do đó, những giáo viên này cũng phải tự học để đáp ứng với những thay đổi chƣơng trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá học sinh…

    Đối với giáo viên trẻ mới ra trường có thế mạnh về công nghệ, về kiến thức chuyên môn, nhiệt tình, song, họ là những người chưa có kinh nghiệm giảng dạy cũng như giáo dục học sinh; chưa nắm vững các nghiệp vụ của người giáo viên, công tác chủ nhiệm lớp… Vì vậy, họ cần phải học hỏi và tự học nhiều mới đáp ứng yêu cầu, đồng thời tự học là con đường tốt nhất để giáo viên trẻ vươn lên trở thành giáo viên dạy giỏi. Đặc biệt, giáo viên trẻ phải học và tự học để nâng cao kỹ năng giảng dạy, công tác chủ nhiệm, nghiệp vụ người giáo viên, khả năng ứng xử các tình huống sư phạm và chuẩn bị tâm thế đi học để nâng chuẩn về đào tạo. Chúng tôi nhận thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng và đào tạo người tài nói chung đặt ra cho người giáo viên phải tự học và tự nghiên cứu suốt đời.

    Thứ hai, xác định tự học, tự nghiên cứu của giáo viên gắn liền với quá trình giảng dạy:

    Suy cho cùng, nhiệm vụ của người giáo viên là nâng cao kiến thức và năng lực cho học sinh. Muốn vậy, quá trình giảng dạy của giáo viên không chỉ có hoạt động dạy của thầy mà gắn liền với hoạt động học của trò. Quá trình dạy của thầy không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà là một quá trình dạy – tự học cho học sinh. Và như vậy, quá trình tự học, tự nghiên cứu của ngƣời giáo viên lại có mối quan hệ với với việc hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh.

    Theo sơ đồ này, quá trình tự học, tự nghiên cứu của giáo viên phải hướng đến hình thành cho học sinh những phẩm chất đạo đức, những kỹ năng tư duy và kỹ năng thực hành ứng dụng thông qua quá trình dạy học. Quá trình dạy của giáo viên đạt hiệu quả tốt nhất là phải gắn liền với quá trình tự học, tích cực, sáng tạo của học trò và đối với học sinh giỏi nói chung và học sinh chuyên nnói riêng, cầu tự học phải cao hơn học sinh bình thường.

    Theo chúng tôi, quá trình tự học, tự nghiên cứu của giáo viên sẽ có tác động đến quá trình hình thành năng lực, phẩm chất của ngƣời học sinh một cách trực tiếp và gián tiếp. Tác động trực tiếp đến học sinh đó là sự nêu gƣơng về tự học sáng tạo, còn gián tiếp, đó là quá trình tự học, tự nghiên cứu của giáo viên sẽ nâng cao kiến thức, kỹ năng giảng dạy đẫn đến nâng cao hiệu quả dạy học.

    Ngược lại, một giáo viên mà khả năng tự học, tự nghiên cứu yếu thì khó có thể hình thành các phẩm chất và năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực tự học.

    Như vậy, tự học, tự nghiên cứu của ngƣời giáo viên trƣớc hết phải hướng đến việc tăng cường hiệu quả cho quá trình dạy học và hướng đến hình thành và rèn luyện các phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh.

    Thứ ba, phải biết khoanh vùng tự học, tự nghiên cứu

    Lý thuyết dạy học vùng phát triển gần của nhà tâm lí học Vư-got-xki đã nhận định rằng: "Dạy học, về mặt này hay mặt khác, phải phù hợp với trình độ phát triển của trẻ - đó là một sự kiện được phát hiện bằng kinh nghiệm và được kiểm nghiệm nhiều lần, không thể nào phủ nhận được". Quan điểm này nói lên rằng, việc tự học, tự nghiên cứu của giáo viên phải gắn liền với nghiên cứu chƣơng trình giáo dục hiện hành, đồng thời nghiên cứu những phương pháp giảng dạy phải phù hợp với từng đối tượng học sinh.

    Bất kỳ giáo viên nào, trong quá trình dạy học của mình phải trực tiếp giảng dạy cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Khi mới vế công tác tại trường chuyên, tôi nghĩ rằng học sinh chuyên là những học sinh giỏi và đối tượng mà giáo viên chuyên dạy là những học sinh giỏi, chăm học…. Tuy nhiên, thực tế giáo viên chuyên cũng phải đối diện với nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Chẳng hạn đối với môn Hóa của tôi phải giảng dạy cho ít nhất 3 đối tượng học sinh, đó là: học sinh chuyên hóa, học sinh các môn tự nhiên và học sinh chuyên các môn xã hội. Đối với giáo viên ở trường phổ thông, chắc chắn sẽ giảng dạy với nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Và như vậy, tự học, tự nghiên cứu của giáo viên là làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học với nhiều đối tượng học sinh khác nhau, ở đây chính là năng lực tìm hiểu học sinh của giáo viên.

    Quay trở lại lí thuyết dạy học vùng phát triển gần, Vưgotxki nói thêm, "chỉ có việc giảng dạy nào hơi đi trước sự phát triển mới là việc giảng dạy tốt”. Quan điểm này lại đặt ra cho người giáo viên, trong quá trình giảng dạy phải đặt yêu cầu cao đối với sự phát triển về năng lực cũng như trí tuệ của học sinh. Để đạt được điều này là một vấn đề khó đối với người giáo viên, phải đặt ra yêu cầu cao, nhưng như thế nào là vừa phải, nếu cao quá sức thì có tác dụng ngược lại. Mặt khác, kiến thức mà chúng ta truyền đạt cho học sinh không bất biến, mà nó luôn luôn biến đổi trong quá trình thay đổi của khoa học kỹ thuật, khoa học về tư duy và nhận thức.

    Nói tóm lại, tự học, tự nghiên cứu của người giáo viên hướng đến làm thế nào nâng cao hiệu quả giảng dạy với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.

    Thứ tư, xác định những phương tiện hỗ trợ hiệu quả nhất cho tự học, tự nghiên cứu

    Tự học, tự nghiên cứu chưa bao giờ là công việc dễ dàng để chúng ta có thể đạt được mục đích trong một thời gian ngắn, mà tự học tự nghiên cứu hiệu quả phải là một quá trình mà mỗi ngƣời thực hiện trong một thời gian dài với kế hoạch phù hợp, có sự hỗ trợ của các phương tiện cần thiết. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế như hiện nay, việc sử dụng internet và tiếng Anh là điều vô cùng cần thiết.

    Mạng internet

    Mạng internet hiện nay cung cấp một lượng tri thức khổng lồ về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Ở đó, bạn dễ dàng tìm ra đƣợc nhiều tri thức mới cập nhật liên tục đến từng giây trên khắp thế giới.

    Internet có nhiều thứ bổ ích hơn rất nhiều so với các dạng thông tin khác và tùy mục đích hướng đến mà chúng ta có thể khai thác đƣợc. Tuy nhiên, thông tin trên Internet cũng không phải là chính xác hoàn toàn, do đó, đòi hỏi giáo viên viên phải biết lựa chọn những nguồn thông tin đáng tin cậy. Mặt khác, Internet có thể làm thay đổi hình thức và phương thức học tập, có thể học từ xa, học mọi lúc, mọi nơi. Một số nƣớc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản… đang đẩy mạnh E-Learning và hướng đến một nền giáo dục điện tử. Trong khi vấn đề này, đối với Việt Nam đang còn "xa vời" đối với học sinh phổ thông. Học sinh và giáo viên Việt Nam thiên về dạy – học mặt đối mặt. Chính vì vậy, các trường học, hay từng nhóm giáo viên hãy mạnh dạn tham gia các khóa học về một chuyên môn hay kỹ năng nào đó thông qua mạng Internet.

    Tiếng Anh

    Làm một phép so sánh về tìm kiếm một thuật ngữ khoa học chung bằng tiếng Việt và tiếng Anh, bạn sẽ thấy sự chênh lệch về nguồn tri thức sẵn có trên internet. Lượng tri thức bằng tiếng Anh gần như là vô tận so với khả năng về trí tuệ và thời gian tồn tại trong thế giới này của bạn. Có tiếng Anh, việc xử lí và giải quyết các công việc của giáo viên trở nên nhanh hơn rất nhiều.

    Tuy nhiên, học tiếng Anh như thế nào để thấy hứng thú và hiệu quả đối với giáo viên và sinh viên sư phạm lại là một vấn đề không đơn giản. Theo kinh nghiệm chúng tôi, việc học tiếng Anh chuyên ngành có lẽ là thích hợp nhất cho giáo viên. Điều này mang đến hai lợi ích trước mắt cũng như lâu dài: tiếng Anh cho sự hội nhập quốc tế nói chung và tri thức phục vụ cho việc dạy học, đặc biệt đối với chuyên môn của mình. Thực tế cho thấy hạn chế lớn nhất và cản trở sự tự học, tự nghiên cứu của giáo viên là trình độ ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng của đa số giáo viên phổ thông hiện nay còn thấp, trong khi việc bồi dưỡng tiếng Anh cho giáo viên hiện nay chủ yếu chạy theo chứng chỉ, chứ không phải nâng cao trình độ ngoại ngữ để phục vụ cho tự học, tự nghiên cứu.

    Chúng tôi nghĩ rằng, nếu trong quá trình giảng dạy đối với học sinh trung học, chúng ta có thể giao cho học sinh những bài tập, hay giải quyết những vấn đề thực tế dưới dạng những bài tiếng Anh chắc chắn sẽ gây hứng thú cho học sinh hơn.

    Kết luận

    Nói tóm lại, việc tự học, tự nghiên cứu của giáo viên chịu sự chi phối sâu sắc của mục tiêu giáo dục. Muốn giáo viên tự học, tự nghiên cứu có hiệu quả thì cần phải đổi mới tư duy về dạy học cũng như đổi mới cách kiểm tra, đánh giá học sinh như hiện nay. Bản thân mỗi giáo viên, muốn có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp đổi mới giáo dục của nước nhà, cũng phải tự học, tự nghiên cứu không chỉ để nâng cao kiến thức chuyên môn, mà còn nâng cao hiệu quả dạy học, gắn liền với từng đối tượng học sinh. Qua đó vừa phát triển tư duy, vừa hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết cho cuộc sống tương lai, đặc biệt là năng lực và tâm thế học tập suốt đời của mỗi một học sinh.

    Tài liệu tham khảo
    1. Trần Trọng Thủy (1997), "Lý thuyết "vùng phát triển gần nhất" của L.X.Vưgôtxki - một đóng góp to lớn cho tâm lý dạy học", Hội thảo khoa học “L. X. Vưgôtxki, nhà tâm lý học kiệt xuất thế kỉ hai mươi”, Hà Nội.
    2. Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lí học Vư-gốt-xki, Tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
    3. John Dewey (2008), Dân chủ và Giáo dục, Phạm Tuấn Anh dịch, NXB Tri Thức, Hà Nội
    4. Bentham Susan (2002), Psychology and education, Routledge, New York.
    5. Harry Daniels (2003), Vygotsky and Pedagogy, Taylor & Francis Group.
    6. Harry Daniels (2005), An Introduction to Vygotsky, Taylor & Francis Group.
    7. Jenifer Hammond and collegues (2002), Scaffolding Teaching and Learning in Language and Literacy Education, Newtown, Australia: Primary English Teaching Association.

    Nguồn: http://www.ier.edu.vn/component/option,com_docman/task,doc_details/Itemid,137/gid,132/

    DOWNLOAD TOÀN BỘ KỶ YẾU TẠI ĐÂY


    Các tin khác:
    Các tin cũ hơn:

    Tìm kiếm

    Thi thử THPT QG

    TV tuyển sinh và du học

    Tư vấn tuyển sinh và du học

    Học sinh tiêu biểu

    Họ tên: Nguyễn Văn Hoàng

    Thông tin: Lớp 12 Hóa

    Thành tích: Giải Nhì HSGQG môn Hóa năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Đình Sáng

    Thông tin: Lớp 11 Hóa

    Thành tích: Giải Nhì HSGQG môn Hóa năm 2017

    Họ tên: Đặng Quỳnh Giao

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Hồ Thu Thủy

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Hữu Phong

    Thông tin: Lớp 12 Tin

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Tin năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tường Lanh

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tiến Đạt

    Thông tin: Lớp 11 Toán

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Toán năm 2017

    Họ tên: Trần Lê Anh Quân

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Tiếng Anh năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Hữu Hiếu

    Thông tin: Lớp 11 Tin

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Tin năm 2017

    Họ tên: Trần Khánh Hà

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Phạm Lâm Phương Quỳnh

    Thông tin: Lớp 12 Văn

    Thành tích: Giải Ba HSGQG môn Văn năm 2017

    Họ tên: Phan Minh Phu

    Thông tin: Lớp 12 Địa

    Thành tích: Giải KK HSGQG môn Địa lý năm 2017

    Họ tên: Võ Thục Khánh Huyền

    Thông tin: Lớp 10 Toán

    Thành tích: HCB Tìm kiếm Tài năng Toán học trẻ tại Singapore năm 2017

    Họ tên: Nguyễn Tiến Đạt

    Thông tin: Lớp 12 Toán

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Toán năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Minh Thắng

    Thông tin: Lớp 11 Lý

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Vật lý năm học 2017-2018

    Họ tên: Nguyễn Nhật Thiên

    Thông tin: Lớp 11 Hóa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Hóa học năm học 2017-2018

    Họ tên: Ngô Thị Phụng

    Thông tin: Lớp 12 Sinh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Sinh học năm học 2017-2018

    Họ tên: Đinh Nguyễn Ngọc Khánh

    Thông tin: Lớp 11 Văn

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Ngữ văn năm học 2017-2018

    Họ tên: Trần Anh Thư

    Thông tin: Lớp 11 Sử

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Lịch sử năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Thị Hoài Phượng

    Thông tin: Lớp 12 Sử-Địa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Lịch sử năm học 2017-2018

    Họ tên: Trần Thị Mỹ Huyền

    Thông tin: Lớp 11 Địa

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Địa lý năm học 2017-2018

    Họ tên: Hồ Thu Thủy

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Hoàng Thị Quỳnh Giao

    Thông tin: Lớp 12 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Lê Hoàng Hạnh Lan

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Nhất HSGVH lớp 12 cấp tỉnh môn Tiếng Anh năm học 2017-2018

    Họ tên: Nguyễn Quang Nghĩa

    Thông tin: Lớp 11 Anh

    Thành tích: Giải Nhất Chinh phục năm 2017

    Thay lời tri ân

    Họ tên: Tập thể lớp Toán - Tin (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 5.000.000đ (thành lập trường) và 15.000.000đ (HB)

    Họ tên: Tập thể lớp Toán-Lý-Tin (92-95)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 20.000.000đ

    Họ tên: Cựu học sinh

    Thông tin: Khóa 1993-1996

    Đóng góp: 20.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Toán-Tin và Hóa-Sinh (95-98)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 16.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Lý - Hóa (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 7.500.000đ (50% ủng hộ trường, 50% HB)

    Họ tên: Đào Thiên Hương

    Thông tin: Chuyên Toán 1993-1996

    Đóng góp: 10.000.000đ (HB)

    Họ tên: Đoàn Hồ Đức Lễ

    Thông tin: Chuyên Hóa 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Trần Ngọc Lưu

    Thông tin: Chuyên Toán 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Hồ Ngọc Thăng

    Thông tin: Chuyên Hóa 1995-1998

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Lê Trần Bảo

    Thông tin: Chuyên Lý 1994-1997

    Đóng góp: 5.000.000đ (HB)

    Họ tên: Hồ Ngọc Tân + Nguyễn Nữ Thanh Hương

    Thông tin: Chuyên Toán 1998-2001 + Chuyên Lý 2000-2003

    Đóng góp: 5.000.000đ

    Họ tên: Phan Thị Minh Nghĩa

    Thông tin: Chuyên Văn 1991-1993

    Đóng góp: 2.000.000đ

    Họ tên: Phan Thanh Chung

    Thông tin: Chuyên Hóa 2000-2003

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Lê Công Nam

    Thông tin: Chuyên Lý 1991-1994

    Đóng góp: 800.000đ

    Họ tên: Nguyễn Hà Lan Phương

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Nguyễn Thị Quỳnh Trang

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Trần Tiến Dũng

    Thông tin: cựu học sinh khóa 2002-2005

    Đóng góp: 500.000đ

    Họ tên: Tô Thị Ngọc Thùy

    Thông tin: Chuyên Toán 1995-1998

    Đóng góp: 200.000đ

    Họ tên: Phạm Văn Thọ

    Thông tin: cựu học sinh khóa 1990-1993

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Tập thể lớp Toán - Tin (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: bổ sung 2.000.000đ (HB)

    Họ tên: Tập thể lớp Lý - Hóa (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: bổ sung 10.500.000đ (tổng: 18.000.000đ - 13.000.000 (HB) + 5.000.000đ (lễ hội))

    Họ tên: Tập thể lớp Văn - Anh (94-97)

    Thông tin: cựu học sinh

    Đóng góp: 3.000.000đ

    Họ tên: Đoàn Tín Nghĩa

    Thông tin: Chuyên Toán 1997-2000

    Đóng góp: 1.000.000đ

    Họ tên: Cựu học sinh

    Thông tin: Chuyên Hóa 2000-2003

    Đóng góp: 9.000.000đ (HB)

    Họ tên: Lớp Văn-Anh, Toán, Lý, Hóa, Tin

    Thông tin: cựu học sinh khóa 1999-2002

    Đóng góp: 32.100.000đ (trong đó có 25.600.000đ tiền quà tặng)

    Tiện ích

    •Thống kê truy cập

    3568246
    loading
    Mudim v0.8 Tắt VNI Telex Viqr Tổng hợp Tự động Chính tảBỏ dấu kiểu mới [ Bật/Tắt (F9) Ẩn/Hiện (F8) ]